Hướng dẫn sử dụng phần mềm AUTOFORM

MÔ PHỎNG SỐ TẠO HÌNH TẤM
Typography
  • Smaller Small Medium Big Bigger
  • Default Helvetica Segoe Georgia Times
Hiện nay, tại Việt nam ngày càng có nhiều doanh nghiệp sản xuất ô tô mong muốn ứng dụng công nghệ dập tấm để sản xuất các chi tiết khung, vỏ xe. Tuy nhiên, với các dạng chi tiết có kích thước lớn, phức tạp cần phải có công nghệ dập tạo hình phù hợp để nâng cao chất lượng sản phẩm đồng thời giảm thiểu chi phí sản xuất

 

PHẦN 2: HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG PHẦN MỀM AUTOFORM

 

 

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

2.1.1.TẦM QUAN TRỌNG CỦA CÁC PHẦN MỀM MÔ PHỎNG TRONG BIẾN DẠNG TẤM.

Hiện nay, tại Việt nam ngày càng có nhiều doanh nghiệp sản xuất ô tô mong muốn ứng

dụng công nghệ dập tấm để sản xuất các chi tiết khung, vỏ xe. Tuy nhiên, với các dạng chi tiết có kích thước lớn, phức tạp cần phải có công nghệ dập tạo hình phù hợp để nâng cao chất lượng sản phẩm đồng thời giảm thiểu chi phí sản xuất. Trong bài báo dưới đây sẽ trình bày phương pháp nghiên cứu mới dựa trên mô phỏng số nhằm phân tích quá trình tạo hình các chi tiết dập tấm có hình dạng phức tạp. Các kết quả mô phỏng sẽ được ứng dụng để tối ưu công nghệ và khuôn mẫu dập các chi tiết vỏ xe ô tô.

2.1.1.1.Giới thiệu.

Đa phần vỏ xe ôtô là các chi tiết vỏ mỏng, có kích thức lớn và hình dạng phức tạp. Để sản xuất công nghiệp các chi tiết vỏ xe, một trong những phương pháp hữu hiệu nhất không thể thay thế được cho đến nay tại hầu hết các quốc gia có nền sản xuất xe ôtô hiện đại đó là công nghệ dập tấm. Các bộ khuôn dập thường có kích thước và hình dạng tương tự như chi tiết, nên khuôn dập vỏ ô tô sẽ có kích thước, khối lượng lớn, hình dạng phức tạp. Như vậy, giá thành của các bộ khuôn rất cao, mất nhiều thời gian thiết kế, chế tạo (một bộ khuôn dập thường có giá thành lên đến vài triệu USD) [1]. Tại Việt nam, việc tính toán thiết kế khuôn dập vỏ ôtô mới chỉ bắt đầu từ 5 năm trở lại đây và chỉ căn cứ vào kinh nghiệm theo các chi tiết dập thông thường khác. Sau khi hoàn chỉnh thiết kế công nghệ sẽ thực hiện gia công chế tạo khuôn, dập thử, hiệu chỉnh, sửa khuôn. Quá trình dập thử và hiệu chỉnh này thường phải lặp đi lặp lại nhiều lần và không tránh khỏi tổn thất về thời gian cũng như kinh phí. Trong năm 2007-2008, sự đầu tư và phát triển mạnh mẽ vào công nghiệp ôtô Việt nam với mong muốn nâng cao tỷ lệ nội địa hóa

sản phẩm khung, vỏ xe đã đặt ra cho các nhà kỹ thuật phải nâng cao trình độ chuyên môn và áp dụng hướng nghiên cứu công nghệ mới nhằm giảm chi phí sản xuất vỏ xe, rút ngắn thời gian thiết kế, chế thử, cũng như nâng cao chất lượng sản phẩm. Chính vì vậy, nghiên cứu phương pháp mô phỏng số quá trình dập tạo hình, ứng dụng công nghệ thông tin vào thiết kế tính toán nâng cao độ chính xác công nghệ và khuôn với sự trợ giúp của máy tính và các phần mềm chuyên dụng được xem là hướng đi đúng và đem lại hiệu quả kinh tế cao. Căn cứ vào kết quả mô phỏng số sẽ xác định được qui trình công nghệ tối ưu như số lần dập tạo hình, các thông số công nghệ của quá trình biến dạng như lực dập, lực chặn, ma sát và sẽ có được kích thước hình học, biên dạng của dụng cụ gia công một cách hợp lý.

Hình 1 trình bày trình tự các bước thực hiện từ thiết kế sản phẩm, qua thiết kế công nghệ, chế tạo khuôn, dập thử, đánh giá chất lượng sản phẩm và cuối cùng đưa ra sản xuất công nghiệp [2]. Trong các khâu này, việc tối ưu công nghệ và khuôn đóng vai trò quan trọng hàng đầu, phải được thực hiện nhờ mô phỏng số để giảm thiểu các rủi ro sai hỏng khi thiết kế công nghệ. Công việc mô phỏng số quá trình dập tạo hình được thực hiện “ảo” trên máy tính cần phải được nghiên cứu, phát triển bởi nó không chỉ tiết kiệm thời gian mà còn đơn giản khi thay đổi mẫu mã sản phẩm cũng như giúp cho người kỹ sư có được đánh giá tổng

quan và chính xác về quá trình tạo hình và chất lượng sản phẩm sau này.

 

 

Hình: Các bước thực hiện từ thiết kế sản phẩm đến sản xuất công nghiệp

 

2.1.1.2.Nghiên cứu tối ưu công nghệ và khuôn nhờ mô phỏng số.

Tối ưu công nghệ dập tạo hình và khuôn mẫu có nghĩa là cần thiết phải xác định được các yếu tố ảnh hưởng như lực công nghệ, lực chặn, hành trình chày, hành trình chặn, ma sát phụ thuộc thời gian và kích thước hình học khuôn như góc lượn cối … phù hợp để tạo ra sản phẩm có chất lượng cao nhất. Quá trình tính toán thiết kế khuôn và tối ưu công nghệ này đều được thực hiện dựa vào mô phỏng số trên máy tính (hình 2) [3]. Đầu tiên, sản phẩm mẫu (chi tiết) được số hoá dưới dạng mô hình 3D. Mô hình này ban đầu là tập hợp của nhiều điểm trong không gian hoặc có thể là mô hình lưới. Sau đó, mô hình sẽ được dựng ở dạng mặt. Đây sẽ là

mô hình cơ sở cho việc thiết kế mô hình hình học của khuôn (chày, cối, chặn) và phôi như trên hình 3.

 

 

 

Sau khi có mô hình hình học của bài toán bao gồm mô hình chày, cối, tấm chặn, phôi, mô phỏng số được tiến hành theo các bước:

- Xây dựng mô hình thuộc tính biến dạng của phôi và dụng cụ gia công.

- Chia lưới phần tử cho mô hình bài toán.

- Thiết lập mô hình tiếp xúc giữa phôi và dụng cụ gia công

- Xây dựng mô hình điều kiện biên của bài toán như ràng buộc chuyển vị, lực...

- Giải bài toán nhờ tính toán phần tử hữu hạn (chạy bài toán mô phỏng)

- Xuất kết quả

- Phân tích đánh giá quá trình, chất lượng sản phẩm

- Hiệu chỉnh các thông số công nghệ đầu vào để hoàn chỉnh công nghệ.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hình: Mô hình bài toán dập vỏ ôtô.

 

Sau khi chạy bài toán mô phỏng, ta sẽ phân tích đánh giá quá trình biến dạng tạo hình và

đánh giá chất lượng sản phẩm.

Kết quả mô phỏng được thể hiện dưới các hình ảnh trực quan về trường phân bố ứng suất, biến dạng, tốc độ biến dạng, chuyển vị... như trên hình 4. Thông qua các kết quả này, có thể đánh giá chính xác cả quá trình tạo hình, những khuyết tật như nhăn, rách, vị trí xảy ra khuyết tật trên phôi. Hình 4a biểu diễn lưới biến dạng của phôi tấm. Việc chia lại lưới tại vị trí nào nhiều sẽ thể hiện tại nơi đó biến dạng lớn và cần thiết phải kiểm tra độ chính xác về mặt hình học. Tại các vị trí biến dạng lớn (mầu đỏ trên biểu đồ hình 4b và 4c), vật liệu tấm bị biến mỏng nhiều (có thể lên đến 50%), tại đó tập trung ứng suất lớn và tạo ra các vùng mất ổn định có thể gây rách sản

phẩm. Tại các vị trí trên mặt vành phôi xuất hiện sự tăng chiều dày, điều này gây nên hiện tượng nhăn.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

a)                                                            b)                                             c) Hình . Kết quả mô phỏng số quá trình dập tạo hình chi tiết tai trước xe con

a) Lưới biến dạng b) Phân bố biến dạng trên phôi c) Vị trí nguy hiểm

 

 

Dựa vào hình ảnh phân bố biến dạng trên phôi có thể xác định chính xác các vùng nhăn, rách, vùng mất ổn định, vùng an toàn của vật liệu. Qua đó dễ dàng thay đổi các thông số công nghệ như lực chặn, ma sát hay kích thước hình học của dụng cụ gia công sao cho đạt được chất lượng sản phẩm cao nhất theo các chỉ tiêu:

- Đồng đều về chiều dày tấm, không có những vị trí biến mỏng quá nhiều.

- Không xuất hiện nhăn trên phần vành.

- Độ chính xác hình học của sản phẩm theo kích thước của dụng cụ gia công hay sản phẩm mẫu.

Dựa vào kết quả phân tích mô phỏng số, không chỉ cho phép tối ưu công nghệ mà còn có khả năng nghiên cứu phát triển và ứng dụng các phương pháp công nghệ mới nhằm dễ dàng

điều khiển quá trình tạo hình hay nâng cao hơn nữa chất lượng của bề mặt sản phẩm dập. Để điều khiển lực chặn theo các vị trí kéo kim loại vào lòng cối, trên phần vành có thể bố trí gân vuốt và ta cũng tối ưu hình dạng gân, vị trí đặt gân vuốt ngay trong quá trình mô phỏng dập tạo hình. Kích thước hình dạng của phôi cũng được xác định một cách chính xác cho quá trình dập chi tiết. Kết quả của việc tối ưu quá trình dập tạo hình là bộ thông số công nghệ tối ưu đồng thời cho biết kích thước, hình dạng hình học của bề mặt chày cối (hình 5). Đây là cơ sở quan trọng

để tiếp tục thiết kế tổng thể khuôn.

 

Hình 5. Hình dạng bề mặt dụng cụ gia công sau khi đã tối ưu

 

2.1.1.3.Ứng dụng mô phỏng số trong thiết kế khuôn dập vỏ xe ôtô.

Dưới đây trình bày kết quả ứng dụng phương pháp mô phỏng số vào thiết kế tối ưu công nghệ dập tạo hình chi tiết tai trước xe ôtô con trong khuôn khổ đề tài cấp nhà nước KC.05.16 do Bộ môn Gia công áp lực - Khoa Cơ khí – Trường ĐH Bách Khoa Hà Nội thực hiện. Từ kết quả mô phỏng số, ta có được biên dạng, kích thước hình học của bề mặt khuôn dập và thiết kế được các chi tiết quan trọng nhất của bộ khuôn như chày, cối và chặn. Sau đó, việc thiết kế tổng thể

bộ khuôn được thực hiện dựa trên việc thiết kế thêm các chi tiết khác như đế khuôn, áo chày, áo cối, dẫn hướng và các chi tiết trong hệ thống chặn. Khuôn dập chùm 2 chi tiết tai trước được thể hiện trên hình 6 và 7. Việc dập chùm 2 chi tiết sẽ tiết kiệm thời gian sản xuất, vật liệu tấm và quan trọng hơn là tạo ra sự đối xứng để đưa điểm đặt lực tổng hợp vào giữa khuôn tạo ra sự ổn định trong quá trình dập tạo hình.

 

 

Hình. Chày dập tạo hình

 

Hình 7. Khuôn dập chùm 2 chi tiết tai trước xe ôtô con

 

 

 

 

Hình 8. Khuôn dập tạo hình được lắp và hiệu chỉnh trên máy ép thủy lực 1500 tấn

 

 

Hình 9. Sản phẩm chi tiết tai trước

Sau khi chế tạo khuôn, ta tiến hành lắp khuôn, hiệu chỉnh và dập thử trên máy ép thủy lực 1500 Tấn (hình 8). Công việc hiệu chỉnh và dập thử đơn giản và thực hiện khá nhanh do đã có các thông số công nghệ tối ưu dựa vào mô phỏng số. Chỉ sau 5 lần dập thử ta đã có được kết quả sản phẩm chi tiết tai trước như trên hình 9. Sản phẩm dập có chất lượng tốt, bề mặt nhẵn bóng, độ chính xác về kích thước đảm bảo theo chi tiết mẫu.

2.1.1.4.Kết luận

Việc ứng dụng mô phỏng số trong thiết kế, tính toán, tối ưu công nghệ dập tạo hình hoàn toàn phù hợp với trình độ sản xuất hiện nay tại Việt Nam, đặc biệt đối với khuôn dập các chi tiết lớn, hình dạng phức tạp như vỏ ôtô. Phương pháp này cho phép giảm thiểu thời gian thiết kế, chỉnh sửa khuôn mẫu, nhanh chóng thay đổi mẫu mã sản phẩm, đồng thời giảm thiểu các chi phí chế tạo và dập thử. Thông qua mô phỏng số, người kỹ sư nhanh chóng tối ưu các thông số công nghệ và khuôn mẫu sao cho tránh được các khuyết tật như nhăn, rách sản phẩm, đồng thời tạo ra công nghệ hợp lý nhất vừa tiết kiệm nhưng vẫn đảm bảo được chất lượng sản phẩm.

2.1.2.GIỚI THIỆU PHẦN MỀM MÔ PHỎNG AUTOFORM

2.1.2.1. Sự ra đời và phát triển

- Ngày nay cùng với sự phát triển của khoa học thì quá trình biến dạng dẻo của kim loại đã được con người nghiên cứu rất nhiều và đã đạt nhiều thành quả. Đặc biệt là quá trình nghiên cứu sự biến dạng của tấm kim loại, xưa kia để kiêm tra tính thực tiển của một lý thuyết thì người ta phải đưa lý thuyết ấy vào thực tế, nhưng trước tiên phải đưa nó vào phòng thí nghiệm trước. Sự biến dạng của tấm kim loại cũng vậy, để kiểm tra quá trình biến dạng của nó con người cũng phải chế tạo khuôn để thử, nhưng không phải với một bộ khuôn là có thể cho kết quả tốt mà phải chế tạo rất nhiều khuôn khác nhau. Điều đó làm cho chúng ta mất nhiều chi phí cũng như thời gian hơn. Ngày nay với sự ứng dụng của các phần mềm mô phỏng thì thời gian được rút ngắn đi rất nhiều, chi phí cũng vậy đã giảm đi đáng kể.

- Kỹ thuật ứng dụng AutoForm được thành lập vào năm 1995 ở Zurich, Thụy Sĩ. Kể từ đó, AutoForm đã tăng trưởng liên tục và nhanh chóng. Và đã có văn phòng đại diện tại Thụy Sĩ, Đức, Hà Lan, Pháp, Tây Ban Nha, Ý, Mỹ, Mexico, Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc cũng như các đối tác phân phối tại nhiều quốc gia khác, AutoForm là phần mềm lý tưởng đã thế nó còn cung cấp cho khách hàng những dịch vụ chăm sóc và hỗ trợ tốt nhất.

 

 

- Hiện nay, trên 2500 người sử dụng trong hơn 400 công ty ở 40 quốc gia trên khắp thế giới, tất cả đều tin tưởng và dựa vào AutoForm cho các các hoạt động sản xuất. Autoform luôn dẫn đầu trong nghiên cứu và phát triển, với sự đổi mới nhanh chóng và đáng tin cậy.

- Tại hội nghị Numisheet lần thứ 7 tại Interlaken Thụy Sỉ từ ngày 1 – 5 tháng 9 năm

2008, các kết quả chính xác của Autoform đưa ra đã thuyết phục tất cả mọi người tại hội nghị, lại một lần nửa công nhận Autoform là một trong những phần mềm đứng đầu thế giới trong lỉnh vực mô phỏng sự biến dạng dẻo của kim loại tấm. Và tại hội nghị các nhà khoa học cũng nhận định, ngày nay Autoform không những sử dụng trong các ngành công nghiệp mà nó còn phục vụ cho học tập và nghiên cứu khoa học trên toàn thế giới.

2.1.2.2. Tổng quan về phần mềm Autoform và những phần mềm có khả năng mô phỏng và thiết kế khuôn khác

- AutoForm là một phần mềm cung cấp các giải pháp cho việc thiết kế khuôn và mô phỏng sự biến dạng dẻo của kim loại trong ngành công nghiệp, nó được khách hàng và các nhà sản xuất ô tô đứng đầu trên thế giới công nhận, như là một trong số nhà cung cấp phần mềm cho các công ty sản xuất trong lĩnh vựv biến dạng dẻo, thiết kế khuôn cho các ngành công nghiệp ô tô toàn cầu. Việc sử dụng các phần mềm AutoForm cải thiện độ tin cậy trong lập kế hoạch, làm giảm số lượng các tryouts chết và tryout thời gian, và làm cho kết quả được cải thiện chất lượng cao hơn và công cụ thiết kế có thể được sản xuất với sự tin tưởng tối đa. Ngoài ra, nhờ phần mềm này mà các nhà sản xuất có thể giảm được thời gian sản xuất và phế phẩm, là một yêu cầu rất quan trọng trong nền kinh tế suy thoái hiện nay.

- Dựa trên thực tế thì các khu công nghiệp họ đã biết làm thế nào để thiết kế khuôn và tạo hình kim loại tấm một cách chuyên môn hơn, AutoForm là một phần mềm tích hợp tất cả

các giải pháp thích hợp để có thể thực hiện được các chức năng phân tích, xem xét và tối ưu hóa cho mỗi giai đoạn của quá trình sản xuất.

- Autoform là một phần mềm cung cấp các giải pháp để người sản xuất có thể lựa chọn một phương án tối ưu nhất trong suốt quá trình sản xuất.

 

 

 

- AutoForm là phần mềm nổi tiếng cho kết quả chính xác và tính toán thời gian ngắn, và có giao diện rất trực quan với người dùng do đó nó dễ sử dụng hơn và thiết thực hơn cho người

 

 

thiết kế. Đó là một sự kết hợp mạnh mẽ giữa độ chính xác, tốc độ và người sử dụng nó, điều này rất quan trọng trong xã hội ngày nay.

- Autoform là sự lựa chọn tối ưu cho hàng trăm nhà sản xuất dù lớn hay nhỏ. Autoform cung cấp cho ta rất nhiều giải pháp để giải quyết vấn đề, nhưng để cài được nó thì chỉ cần một máy tính có cấu hình đơn giản và có ở tất cả các máy tính có sẵn hệ điều hành UNIX, Windows và Linux. Và nó là tương thích với tất cả các hệ thống CAD lớn và có thể sử dụng một cách dễ dàng.

- Đương nhiên ngày nay có rất nhiều phần mềm dùng để mô phỏng cho sự biến dạng của kim loại tấm như Eta/Dynaform, Hyperword cũng như có rất nhiều phần mềm có thể diễn tả được chuyển động của vật thể như Proe, Solidworks, Inventor…Phần mềm dùng cho thiết kế khuôn như Proe, Solidworks, Cimatron…Nhưng tất cả các phần mềm trên khi thực hiện mô phỏng sự biến dạng của tấm kim loại thì chỉ có Autoform là cho kết quả chính xác nhất và gần giống với thực tế nhất. Các phần mềm trên thì Cimatron là mạnh nhất trong lỉnh vực thiết kế khuôn dập, Hyperwork thì chia lưới, Autoform thì mô phỏng. Các phần mếm thiết kế 3D như Proe, Solidworks, Cimatron đều có một mô đun riêng dành cho thiết kế khuôn dập đối với Proe và Cimtron thì có Progressive die còn Solidworks là 3DquickPress, nhưng phần Progressive die của Proe không có phần dập vuốt.

- Còn với phần mềm Catia và Unigraphics thì Autoform đã có một bước đi vô cùng quan trọng và tạo điều kiện dễ dàng cho người sử dụng, khi đã tích hợp Autoform vào Catia V5 và Unigraphics.

a) Autoform – Catia V5

- AutoForm-CATIA5 cung cấp các lợi ích cho người sử dụng như sau:

• Tăng tính hiệu quả cho công việc mô phỏng bằng cách truy cập trực tiếp vào

 

kết quả Catia.


 

 

• Cải thiện tính chính xác của sản phẩm bênh cạnh đó nó còn cập nhật và xử lý

 

dữ liệu một cách tự động.

• Tăng tốc độ và hiệu quả của chu kỳ phát triển sản phẩm

• Giảm thiểu sai sót nguồn dữ liệu khi xuất file từ một tập dữ liệu CAD.

- Các tính năng chính của AutoForm-CATIA5:

• Có thể tạo ra khuôn dập một cách nhanh chóng trên giao diện của Catia, cũng như tạo ra mối liên hệ từ Catia đến Autoform một cách dễ dàng và chính xác hơn vì không cần phải chuyển sang một file trung gian.

• Catia có quy trình thiết kế bố trí theo cơ cấu cây, vì vậy các dữ liệu trên Geometric được thiết lập một cách dễ dàng hơn và ít báo lỗi hơn. Và công việc mô phỏng ta có thể tiến hành ở bất cứ thời điểm nào.

• Tự động cập nhật toàn bộ dữ liệu từ Catia V5 làm thời gian giảm đi rất nhiều b) Autoform – Unigraphics

Tương tự như Catia – Autoform, Autoform – Unigraphics cũng là một mô đun tích hợp để thuận lợi cho công việc thiết kế và để kết quả mô phỏng chính xác hơn, cụ thể là những lợi ích sau:

- Toàn bộ chu kỳ phát triển của sản phẩm sẽ nhanh và chính xác hơn.

 

 

- Sản phẩm và dữ liệu được xử lý ngay và được cập nhật một cách nhanh chóng do đó chính xác hơn.

- Số lỗi được giảm một cách tối thiểu vì tránh xuất file từ một mô hình CAD khác.

- Autoform sử lý trực tiếp kết quả từ UG.

2.1.2.3. a

 

CHƯƠNG 2: HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG PHẦN MỀM AUTOFORM

AutoForm Và giao diện với người sử dụng

 

Thành viên của AutoForm-Giao diện bao gồm các thành phần sau đây:

• Menu bar

• Nút bar

• Thang Thời gian và kết quả

• Màn hình hiển thị chính

 

 

 

Thanh Công Cụ Chính (Menu Bar)

Các menu Display, View và Option sẽ được mô tả chi tiết trong chương này. Hiện nay

chúng em đưa ra một nghiên cứu ngắn các chức năng của các menu: File

Trình đơn này có tất cả các chức năng cần thiết cho quản lý tập tin như thực hiện thiết

lập một mô phỏng tập tin mới, mở ra mô phỏng một tập tin, save các tập tin và in ấn một tập tin. Ngoài ra, còn có the xuất ra một số chức năng và các hộp thoại tham khao sẽ

được mô tả trong phần sau của chương này

Model Mô hình

Các mục của trình đơn này bắt đầu các mô-đun cần thiết cho việc thực hiện tiền xử lý

Run

Ngoài một số thông tin trên cửa sổ hiện thời mô phỏng các bài tập tin để bắt đầu tính toán của một mô phỏng, ta còn có thể tối ưu hóa hoặc hoàn thiện có sẵn trong trình đơn này.

Result

Chức năng chứa đựng trong mục này là cần thiết cho các đánh giá và kiểm tra kết quả của mô phỏng (postprocessing).

Time

Trình đơn này cho phép người sử dụng để lựa chọn một thời gian nhất định trong quá trình mô phỏng.

Lưu ý: Mục Kết quả và Thời gian không có hoạt động cho đến khi tính mô phỏng đã

được reopened. Sử dụng các chức năng Reopen trong trình đơn File để reopen và đánh giá một tính toán mô phỏng

 

 

2.2.1.THE BUTTON BAR

 

 

 

2.2.1.1.Biến kết quả (Result variables)

Để đánh giá kết quả của quá trình mô phỏng ta có thể click vào các nút điều khiển kết quả trên màng hình để lựa chọn nên xem kết quả biến mỏng, biến dày hay la rách.. Các nút điểu khiển này chỉ sáng lên khi ta thực hiện xong quá trình mô phỏng và khi ta mở các file có chấm đuôi là “*sim”

- Mesh only: nút này chỉ sử dụng trong chia lưới còn không thì nó sẽ ở dạng No postdata.

 

-           Failure: hư hỏng

 

-           Springback: đàn hồi ngược

 

-          Thickness: biến dày

 

-           Thinning: biến mỏng

 

-           Plastic strain: biến dạng dẻo

 

-           Major strain: biến dạng chính

 

 

 

-           Minor strai: biến dạng phụ

 

-           Wrinkling criterion:

 

-          Wrinkle height: chiều cao của vết nhăn

 

-          Wrinkling strain:

 

-           Contact stress:

 

-          Blankholder presure: lực chặn phôi

 

 

-           Friction shear stress:

 

2.2.1.2.Biến điều khiển (Directional variables)

Công dụng của nó cũng như công dụng của biến kết quả gồm có:

- Mesh only: nút này chỉ sử dụng trong chia lưới còn không thì nó sẽ ở dạng No postdata.

 

-           Velocity: tốc đô biến dạng.

 

-           Rolling transverse direction: hướng cán.

 

-          Principal strain directions: hướng chủ yếu của biến dạng.

 

-           Principal stress directions: hướng chủ yếu của ứng suất.

2.2.1.3.Dạng mô hình của phôi (Blank sheet)

Để thay đổi hình dạng của phôi là tấm, lưới, sản phẩm nhập vào hay ẩn phôi đi.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

tắt.


-           mô hình của phôi trong quá trình mô phỏng.

 

-          mô hình chia lưới của phôi tấm ban đầu.

 

-            mô hình của chi tiết mà ta thiết kế ban đầu.

- Nút thanh bên phải của các AutoForm-Giao diện Người dùng có thể được bật /

 

 

Kết quả các biến

Trong quá trình đánh giá của các mô phỏng, nhấp chuột vào các nút để hiển thị các kết quả cho những lựa chọn kiểu kết quả biến . Xem trong man hinh hiển thị và quy mô sẽ

được điều chỉnh phù hợp

 

 

Blank Sheet

Bấm vào các nút từ trái sang phải để kích hoạt các tấm tính từ quá trình thời gian thực tế, các blank sheet tại đầu của tiến trình và các dữ liệu hình học.

 

 

Thang Thời gian và kết quả

 

 

Khu vực có chứa các thời gian và kết quả trên quy mô thấp hơn cạnh của các AutoForm- Giao diện Người dùng có thể được bật / tắt.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Kết quả

Các kết quả khác nhau theo kết quả biến mà bạn

đã lựa chọn. Tuy nhiên, kết quả luôn luôn có chứa:

• Tên của các kết quả biến, e.g. Độ dày.

• Phạm vi của các giá trị cho các lựa chọn kết quả biến, ví dụ như 0,5 như giá trị tối thiểu cho độ dày 0,9 la tối đa như giá trị cho các độ dày.

• Các thang màu sắc theo các giá trị cho các lựa chọn kết quả biến. Thời gian

Trượt bằng cách sử dụng trong thời gian quy mô bạn di chuyển trong các mô phỏng.

 

 

Mở 1 File chuẩn bị Mô phỏng

•    Mở một tập tin chuẩn bị mô phỏng như sau

File > Open > Select a file: xa_lesson_01.sim > OK Tắt thanh Button Bar

Một số lệnh để phóng to màn hình hiển thị có sẵn. Tắt hiển thị của các nút trên thanh bên

tay phải của Auto-Form-Giao diện Người dùng. Sử dụng các lệnh sau:

 

 

Display > Right bar

 

 

 

 

 

 

 

AutoForm–User Interface: Button bar switched off

Sử dụng các lệnh sau để hiển thị thanh công cụ lại

 

 

Display > Bottom bar or phím r

 

Tắt the scale

Tắt hiển thị thời gian và kết quả trên cạnh thap của các AutoForm-Giao diện Người dùng. Sử dụng các lệnh sau:

 

 

Display > Bottom bar


The

 

 

 

 

Toàn bộ màn hình chính có thể được sử dụng cho các hiển thị các mô hình. Sử dụng các lệnh sau để hiển thị khu vực có chứa các thời gian

Display > Bottom bar or b key

 

 

Những chức năng cơ bản

 

Các chức năng Cơ bản làm việc với AutoForm: Luân phiên hiển thị hoặc chuyển các mô hình, phóng to, đo lường và hiển thị tọa độ hay giá trị của các biến kết quả.

 

Luân phiên (Rotating)

• Cách dễ nhất của luân phiên của mô hình là bằng cách sử dụng trái nút chuột. Giữ nút trái chuột và đè trong suốt quá trình quay.

• Giữ và đè nút bên trái chuột và di chuyển con chuột đưa con trỏ vào các khu vực

 

 

(khoảng 1 cm, chiều rộng) ở bên trái tay bên trong chính hiển thị. Di chuyển con chuột lên và xuống để luân phiên các mô hình thực tế về các trục ngang.

Moving

AutoForm cung cấp hai cách chuyển động của các mô hình trong màn hình hiển thị:

• Sử dụng các nút bên trái chuột và phím Shift.

• Sử dụng các nút giữa con chuột và phím Shift

Hiện tại không có chức năng khác biệt trong AutoForm phiên bản. khác nhau

Zooming

• Để sử dụng zoom steplessly dùng trái chuột và các nút Ctrl

Di chuyển con chuột lên để phóng to các mô hình; di chuyển con chuột xuống để thu nhỏ xuống các mô hình.

• Sử dụng nút giữa chuột để xác định một rectangle mà xác định các khu vực thu phóng. Khôi phục lại ban đầu kích thước của mô hình bằng cách sử dụng lệnh

View > Fit to window

• hoặc phím tắt Ctrl-W

Bằng cách sử dụng nút giữa chuột unintentionally và đã tạo ra các rectangle, bạn có thể hoàn tác trong quá trình thu: Giữ con chuột nút đóng và bấm phím Esc trong cùng một lúc.

Chú ý: Ngay sau khi bạn phát hành con chuột nút, các khu vực là

phoïng to

• Một stepless zoom cũng có thể được thực hiện bằng cách sử dụng x và z

phím: bấm phím x để phóng to các mô hình; bấm phím z để thu nhỏ các mô hình.

 

Selecting

Chọn có nghĩa là cắt ra một khu vực của các mô hình (Hình 2,1 và Hình.

2.2) để kiểm tra hay đánh giá khu vực này chính xác hơn. Chức năng này có thể

thể hữu ích nếu là mô hình khá phức tạp và các khu vực vành che giấu, mà bạn muốn kiểm tra trong quá trình luân chuyển.

• Sử dụng các nút giữa con chuột và phím Ctrl để chọn các yếu tố:

A rectangle thể hiện bằng nét khuất được tạo ra: Các yếu tố chứa trong rectangle được chọn.

Bằng cách sử dụng nút giữa chuột unintentionally và đã tạo ra các rectangle, bạn có thể

hoàn tác các lựa chọn: Giữ nút con chuột ép và Esc phím bấm cùng một lúc.

Chú ý: Ngay sau khi bạn ngừng nhấn chuột, các yếu tố trong khu vực được chọn. Các lựa chọn cũng có thể được thực hiện trong hai bước sau:

• Phóng lớn trong khu vực, bạn sẽ chọn.

• Chọn các thành phần bằng cách sử dụng lệnh

 

. Display > Select

 

 

Display > Select có thể được thay thế bởi các phím tắt Tổ hợp phím Ctrl-J.

• Toàn bộ mô hình được hiển thị lại bằng cách sử dụng lệnh

 

 

Display > Select all  hoặc phím tắt Ctrl - K.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

trước khi lựa chọn

 

 

 

 

 

 

 

sau khi lựa chọn

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Measuring

The Options menu (hình. 2.3) bao gồm 4 chức năng đo lường

 

 

 

2D/3D measurement

Khi đo hai giá trị được chỉ định. Đầu tiên khoảng cách giữa các điểm bắt đầu và kết thúc được đo hai chiều. Các đo lường được thực hiện trên màn hình. Giá trị này là chỉ định trong chế độ 2D. giá trị Thứ hai được xác định ba chiều. giá trị này Xác định khoảng cách ngắn nhất giữa các điểm bắt đầu và kết thúc, tức là không phải là phát triển chiều dài. Giá trị này là chỉ định trong chế độ 3D.

 

Vector đo lường

Các véc tơ giữa điểm bắt đầu và kết thúc được xác định.

 

 

Đuờng Cong đo lường

Phát triển chiều dài giữa các điểm khởi đầu và kết thúc điểm

được xác định.

 

Bán kính đo lường

Chức năng đã nhận một cung giữa điểm bắt đầu và điểm kết thúc. Bán kính của cung này

được chỉ định

 

 

 

• Sử dụng nút chuột phải và phím Ctrl để đặt điểm bắt đầu và kết thúc điểm cho đo lường. Khoảng Cách được đo ngay sau khi điểm kết thúc được thiết lập:

(Hình 2,4).

• Để đo lường theo chiều ngang hay theo chiều dọc tiến hành như sau:

Đặt điểm khởi đầu bằng cách sử dụng nút chuột phải và tổ hợp phím Ctrl trên bàn phím. Vẫn tiếp tục bấm nút con chuột, thả Ctrl và bấm phím Shift để thay thế.

• Di chuyển con chuột lên hoặc xuống để đo theo chiều dọc; di chuyển con chuột ở bên trái hay bên phải để đo theo chiều ngang.

• Buông con chuột nút để đo khoảng cách.

Các chế độ của đo lường (2-D/3-D, Vector, Curve hay Bán kính) đuợc xác định trong Options menu.

 

 

Hiển thị tọa độ

Sử dụng nút chuột phải và phím Shift để hiển thị tọa độ.

Các cài đặt được yêu cầu nếu các chuơng trình tạo hình dạng đang hoạt động: làm việc trên các trang Prepare ta có thể chọn mặt xuất ra của các CAD hình học và phân công chúng để đăng ký khác nhau (ví dụ như binder).

 

 

Sự lựa chọn của một số mặt được thực hiện bằng cách sử dụng chuột phải nút và phím Shift. Để bảo đảm rằng các tọa độ sẽ được

hiển thị trong trường hợp này, sử dụng các chức Label object/coord. trong

Options menu (Hình 2.5).

 

 

Nếu chuong trình tạo hình dạng không hoạt động, tương ứng các chức năng của

Lựa chọn các trình đơn không phải là hoạt động (xem Hình cũng. 2.3). Bằng cách sử

dụng tắt mô tả các tọa độ được hiển thị ngay lập tức sau khi nhấp chuột vào mô hình.

 

Trường hợp đặc biệt cho các hiển thị của tọa độ: Bạn đang làm việc trên

các trang của Sử dụng các chức năng Nhãn đối tượng / coord. Lựa chọn của trình đơn để

hiển thị các tọa độ. Hiển thị kết quả

Độ dày

Có tính toán các mô phỏng, ta có thể đánh giá các kết quả. Tới hiển thị các kết quả cho

một yếu tố, kích hoạt các kết quả mong muốn biến (ví dụ như là kết quả biến bề dày                                                                        

trong Hình. 2.6). Nhấp vào mô hình với các nút chuột phải để hiển thị các giá trị tương

ứng cho các yếu tố (Hình 2.6).

 

 

 

 

 

2.2.2.THANG THỜI GIAN VÀ THAN KẾT QUẢ (THE TIME AND RESULT SCALE)

 

 

2.2.2.1.Than thời gian (Time scale)

Than thời gian nó được thể hiện bằng dãy màu, mà dãy màu là tùy theo người sử

dụng chọn.

  Ở trên tên của biến kết quả là Failure

  Giá trị nhỏ nhất của biến kết quả được chọn là 0, giá trị lớn nhất của các giá trị của kết quả được chọn là 1,2.

  Dãy màu được cài đặt từ ban đầu và nó thể hiện các giá trị của kết quả

2.2.2.2.Than kết quả (Result scale)

Dùng để lựa chọn các giai đoạn của quá trình mô phỏng

2.2.3.SỬ DỤNG CHUỘT TRONG AUTOFORM

- Xoay: nhấn chuột trái

- Di chuyển: chuột trái + Shift hay là chuột giữa + phím Shift

- Phóng to hay thu nhỏ: dùng chuột trái + phím Ctrl kết hợp với kéo chuột xuống là thu nhỏ kéo chuột lên là phóng to hay dùng nút giữa chuột để phóng to một khu vực

nào đó.

 

 

2.2.4.MENU FILE

 

 

- File > Open: dùng để mở một file sau khi ta đã thực hiện mô phỏng có nghĩa là file đó phải có dạng là “*sim”

  Filter: phần này là nơi chỉ đường dẫn tới mô hình CAD ta cần mô phỏng, ta cũng không cần chú ý mục này, hai phần ta cần chú ý nhất là “Directories” và “Files” được giới thiệu sau đây.

  Directories: đây là khu vực rất quan trọng, nó là nơi mà ta chỉ đường dẫn đến file chứa mô hình CAD bằng cách nhấn phím “Enter” hay “Double click” chuột. Nhưng để thực hiện được vấn đề này ta cần phải chú ý những đặc điểm sau:

  Trong khung của Directories có 6 hàng thì hàng đầu tiên là folder “cha” nó chứa các folder “con” là hàng 3, 4, 5, 6. Còn hàng thứ 2 và thứ 1 nếu ta so sánh thì nó hình như hoàn toàn giống nhau, nhưng hàng thứ 2 có công dụng là “back” lại khi ta nhấn phím “Enter” hay “Double click” chuột vào nó.

  Ta có hai phương pháp để xuât file: phương pháp thứ nhất là tạo một folder trong folder Exceed và sau đó copy mô hình CAD vào trong folder mà ta vừa tạo ra thì ta không cần phải back lại; phương pháp thứ 2 là ta tạo một folder trên ổ đĩa mà ta đã cài Autoform và chỉ đường dẫn đến đó. Một vấn đề cần chú ý là Autoform không thể chỉ dường dẫn ra ngoài phần ổ đĩa cứng mà nó cài vào.

  Files: khung chứa tên file.

  Selection: khung chứa đường dẫn mà ta cần xuất file

 

 

 

- File > Open restar

 

 

- File > Open optimization: khi dập ra một sản phẩm thì ai cũng cần tính đến việc tối ưu hóa phôi, làm sao cho lượng phoi bỏ đi là ít nhất. Do đó ta cần phải tính hình dạng của phôi đưa vào dập là như thế nào ? lá hình tròn, vuông, hay dạnng băng…Để hổ trợ cho việc tối ưu hóa vật liệu thì trong Autoform có một module cho ta tối ưu hóa phôi cho vào dập. Thì Open optimization cho ta mở một file tối ưu sau khi ta chạy nó. Do đó ta cần phải chỉ đường dẫn đến

 

 

nơi chứa file tối ưu và nó thường được chứa mặc định trong C:\Program Files\Hummingbird\Connectivity\8.00\Exceed (nếu ta cài Autoform trong ổ C). Và việc chỉ đường dẫn đến cũng như trên.

 

 

- File > Open trim: dùng để mở một file sau khi thực hiện xong lệnh trim. Trong Autoform thì lệnh trim cũng tương tự như những phần mềm thiết kế khác dùng để cắt bỏ đi mốt phần nào đó của chi tiết. Nhưng để thực hiện được lệnh trim trong Autoform thì công việc phức tạp hơn nhiều. Open trim dùng để mở một file sau khi ta đã tiến hành trim.

 

 

- File > Reopen: mở lại file sau khi ta đã thực hiện một quá trình mô phỏng, khi chưa mô phỏng ta không thể sử dụng “Reopen” được.

- File > New: dùng để mở một file mới từ mô hình CAD chuyển qua thường dưới dạng file “*IGS”

  File name: trên khung này là phần đặt tên của chi tiết ta cần mô phỏng, đối với Autoform thì những thông số hay dữ liệu nào quan trọng mà chưa thiết lập hay có lỗi trong quá trình thiết lập thì nó sẽ nổi đỏ lên. Dó đó, chúng ta cần thiết lập đầy đủ tất cả các thông số thì Autoform mới hoạt động. Chúng ta cũng dễ nhận ra khung nhập tên

(File name) của Autoform nổi đỏ lên. Ta đặt tên là “ Dap sau”

  Units: phần cài đặt đơn vị cho Autoform được chia ra làm hai cột:

  Length: đơn vị của độ dài gồm có: mm, m và inch ta chọn “mm”

  Force: đơn vị của lực gốm có: N và pounds ta chọn đơn vị là “N”

  Geometric error tolerance: dung sai của mô hình ta mô pbỏng ta chọn mặc

định là “0.1”

  Import geometry: chọn loại đuôi của file ta cần xuất ra để mô phỏng, mặc định của nó là “IGES” là dạng trung giang của các mô hình CAD khi xuất từ phần mếm này qua mô hình khác.

  Filter: phần này là nơi chỉ đường dẫn tới mô hình CAD ta cần mô phỏng, ta cũng không cần chú ý mục này, hai phần ta cần chú ý nhất là “Directories” và “Files”

được giới thiệu sau đây.

  Directories: đây là khu vực rất quan trọng, nó là nơi mà ta chỉ đường dẫn đến file chứa mô hình CAD bằng cách nhấn phím “Enter” hay “Double click” chuột. Nhưng để thực hiện được vấn đề này ta cần phải chú ý những đặc điểm sau:

  Trong khung của Directories có 6 hàng thì hàng đầu tiên là folder “cha” nó chứa các folder “con” là hàng 3, 4, 5, 6. Còn hàng thứ 2 và thứ 1 nếu ta so sánh thì nó hình như hoàn toàn giống nhau, nhưng hàng thứ 2 có công dụng là “back” lại khi ta nhấn phím “Enter” hay “Double click” chuột vào nó.

  Ta có hai phương pháp để xuât file: phương pháp thứ nhất là tạo một folder trong folder Exceed và sau đó copy mô hình CAD vào trong folder mà ta vừa tạo ra thì ta không cần phải back lại; phương pháp thứ 2 là ta tạo một folder trên ổ đĩa mà ta đã cài Autoform và chỉ đường dẫn đến đó. Một vấn đề cần chú ý là Autoform không thể chỉ dường dẫn ra ngoài phần ổ đĩa cứng mà nó cài vào.

  Files: khung chứa tên file ứng với đuôi mà ta đã thiết lập ở trên “Import geometry”

  Selection: khung chứa đường dẫn mà ta cần xuất file

 

 

 

- File > Save: dùng để lưu một file lại

- File > Save as: dùng để lưu file

- File > Print: để in file ra

 

 

 

- File > Export image: xuất một file ra ngoài với phần chấm duôi của nó là “*tiff”

 

 

- File > Export mesh: dùng để xuất file dưới dạng mô hình lưới

 

 

 

 

- File > Export results: xuất kết quả sau khi đã mô phỏng

 

 

 

- File > Map results:

- File > Export boundaries: chỉ xuất ra phần biên giới của mô hình phân tích

 

 

- File > Preferences:

- File > Close: đóng file lại

- File > Quit: thoát chương trình Autoform

2.2.5.MENU MODEL

 

 

 

- Model > Geometry generator: dùng để mở hộp thoại Geometry generator, hộp thoại này dùng chủ yếu cho việc thiết kế khuôn và những thông số ban đầu của mô phỏng.

 

 

 

 

 

 

 

 

kép.


  Geometry generator > Prepare:

  Tool setup: phần dùng cài đặt chế độ dập là dập đơn hay dập

 

 

 

Single action Press: dập đơn, ở chế độ này thì chày và binder được giữ cố định trên bàn máy còn cối được cố định trên đầu búa, đây cũng là chế độ mặc định của Autoform.

 

 

 

Double action press: dập kép, cối được cố định trên bàn máy còn chày thì di động và được định vị trên đầu búa.

  Define Objects: mục này dùng để định nghĩa các bộ phận của mô hình mà ta xuất qua Autoform, cũng như ẩn các bộ phận này.

Dù để định nghĩa phần chi tiết mà ta cần dập ra.

Phần này ta không cần phải định nghĩa vì nó được chọn mặc định, và được xuất hiện trên Autoform. Để cho mô hình mô phỏ mất đi thí ta click vào Display part.  Binder: chặn phôi (thông thường các tài liệu cũng như các phần mềm khác thì sử dụng ký tự là Blankhoder), nhưng nó chỉ đúng

khi trong mô phỏng còn trong thiết kế khuôn nó có ý nghĩa khác. Lúc bấy giờ

mặt phẳng binder là mặt phẳng để đặt cối lên.

  Part boundary:

Error tol (error tolerance): dung sai ta chọn mặc định là 0.1

Concatenation distance: khoảng cách nhỏ nhất giữa hai điểm trên biên,

được mặc định là 30.

  Geometry generator > Fillet: dùng để kiểm tra các góc, thường chọ giá trị măc định là 2.00. Khi click chọn Ok thì các góc và đường biên của mô hình sẽ sáng lên.

 

 

 

 

 

 

  Geometry generator > Tip: Khi lick vào đây thì mô hình chuyển thành 3 màu khác nhau là xanh, đỏ và vàng. Phía dướo Autoform cũng xuất hiện 3 than màu là xanh, vàng và đỏ.

 

 

 

  Total tipping of part: dùng để cài đặt góc nghiêng cho cối và mặt phẳng binder. (Nó được dùng cho việc thiết kế khuôn)

  Incremental tipping/ moving of part: tương tự như trên nhưng ta co thể cài đặt từng giá trị do ta chọn, bằng cách nhập vào by degrees và bydxdydz những

thông số mà ta chọn sau đó click vào dấu

  Geometry generator > Mod P:

  Geometry generator > Binder: thiết lập mặt phẳng chứa cối, mặt phẳng này ta có thể lựa chọn chế độ tự động (Auto), hay nhập vào một mặt phẳng

(Import).

 

 

 

  Geometry generator > Addndm (Addendum): cài đặt một mặt phẳng liên kết giữa chi tiết (part) và mặt phẳng binder. Để thiết lập mặt phẳng này đầu tiên ta chọn Add Addendum, khi đó sẽ xuất hiện hộp thoại Pick curve yêu cầu ta chọ một đường cong để làm giao tuyến giữa chi tiết và binder. Khi chọn xong thì trên Geometry generator xuất hiện một dao diện khác yêu cầu ta chọn hình dạng đường cong của

Addendum bằng cách click vào biểu tượng hay Add

prf. Đặc biệt là khi click vào Add prf thì cho phép ta có thể thay đổi từng góc Profin. Còn để thay đổi hình dạng của Add addendum ta có thể di chuyển 2 con trượt trên màng hình

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Display, Options


  Ta thấy trên hộp thoại Geometry generator còn có các menu File,

 

  Geometry generator > File

 

 

 

 

 Import: nhập mô hình vào để mô phỏng.

 Delete: Xóa mô hình mô phỏng.

 1 – bìg: tên file nhập vào.

 Export surfaces: xuất file ra.

 Export Addndm profiles: xuất file dưới dạng những đường cong.

 Dismiss: Ẩn hộp thoại đi.

  Geometry generator > Display: dùng để chọn những mặt phẳng hay một bộ phận nào đó trong giao diện Autoform xuất hiện hay ẩn đi.

 

 

 

 

  Geometry generator > Options:

 

 

 

- Model > Curve manager: dùng để mở hộp thoại Curve manager.

 

 

 

 

- Model > Drawbead generator: dùng để mở hộp thoại Drawbead generator.

 

 

- Model > Blank generator: dùng để mở hộp thoại Blank generator

 

 

 

 

- Model > Input generator: dùng để mở hộp thoại Input generator. Hộp thoại này dùng để thiết lập các thông số cho mô phỏng như lực, dầu bôi trơn, các thông số của chày cối…Nhưng trước khi mở hộp thoại này sẽ xuất hiện hộp thoại Simulation type:

  Simulation type: dạng mô phỏng là tăng dần (incremental) hay từng bước (Onestep)

  Tool setup: cài đặt cho quá trình dập là dập đơn  hay dập

kép  .

  Sheet thickness: thiết lập cho độ dày của phôi, thường mặc định là

0.8.

 

 

 

 

 

 

  Input generator > Title: cho ta biết một số nội dung có liên quan đến mô hình ta mô phỏng như: tên mô hình mô phỏng, ngày tháng, dạng mô phỏng là gì…những

 

 

thông tin này sau khi mô phỏng xong nó mới được thể hiện lên, còn trước khi mô phỏng nó chỉ xuất hiện tên của mô hình, tên của máy tính và ngày tháng ta mô phỏng trong Title.

  Input generator > Tools: vị trí ban đầu của các công cụ có thể thay đổi nếu cần thiết, bằng cách nhập các giá trị x, y, z trong mục Position. Hơn nửa hướng làm việc ta cũng có thể định vị cho các công cụ. Hướng này có thể được định vị theo một vector

 

mẫu ( xv , yv , zv )


hay được định vị bởi điểm đầu ( xs , ys , zs ) và điểm cuối ( xs , ys , zs ) để biểu

 

diễn hướng làm việc của các vector chúng ta cần phải tính toán. Autoform đã mặc định hướng làm việc của các công cụ theo phương z, và khi đó Working direction có thể được chọn là (0 0 1) và (0 0 -1). Còn vận tốc và lực của các công cụ cũng được cài đặt trong Process.

 

 

 

 

  Die > Tool name: tên của chi tiết mà ta đang cài đặt (ở đây là die). Die có thể nằm trên tấm phôi (Above) hay nằm dưới tấm phôi (Below) do ta lựa chọn

 

 

nhưng nó còn tùy thuộc vào việc ta cài đặt lúc ban đầu trên hộp thoại Geomotry generator là dập dơn hay dập kép.

 

 

 

 

  Die > Geometry: cài đặt vị trí ban đầu của công cụ, 3 ô của Position tương ứng với tọa độ của cối trong không gian. Thường 3 ô này để trống hai ô đầu là chỉ

 

 

tọa độ x, y mặc định của hai tọa độ này tâm của chi tiết,còn tọa độ z còn phụ thuộc vào khoảng cáchdi chuyển của nó (Move ở trong Working direction) ở trong hình này thì cối (die) đứng yên Move là 0. Ta chú ý khi click vào Blank contact thì ta không thể nhập giá trị vào trong Move.

  Die > Working direction: nhập khoảng dịch chuyển của công cụ và hướng làm việc. Khi ta muốn muốn thiết lập khoảng dịch chuyển của công cụ phải chú ý

đến hướng chuyển động của nó khi dz < 0 thì khoảng dịch chuyển của công cụ di chuyển

ngược lại với gia tri ta nhập, nếu dz > 0 thì công cụ mới di chuyển cùng hướng với giá trị

mà ta nhập vào trong Move. Thí dụ như hình khi dz = 1, nếu ta nhập giá trị 100 vào Move thi cối sẽ di chuyển lên phân dương của trục Oz với giá trị là 100, còn nếu ta nhập giá trị -100, thì cối sẽ di chuyển xuống dưới phần âm của truc Oz. Nếu dz = -1 thì khi

nhập giá tri 100, cối sẽ di chuyển xuống dưới, còn -100, cối sẽ di chuyển lên trên.

  Die > Columns: định vị tại tâm của công cụ hay tại tâm của chi phôi. Đối với cối (die) và chày (puch) thì mục này ta có thể không cài đặt nhưng với binder thì cần phải cài đặt. Nhưng ta thấy có tất cả là 3 lựa chọn (tâm của công cụ, tâm của phôi và do người dùng định nghĩa) thì ta phải chọn lựa chọn nào và tại sao như vậy ?

  Die > Stiffness: Độ cứng, đối với Autoform phiên bản 3.2 thì nó mặc

định là 50, nó cũng là giá trị mặc định của cả binder và chày.

  Puch: thì các thông số cần cài đặt cũng như die, chỉ khác ở giá trị của nó ở một số vị trí. Đặc biệt là ở Working direction > Move, khi dập một chi tiết nào đó

cần phải sự chuyển động tương đối giữa chày và cối, có nghĩa là khi chày được định vị

trên đầu búa thì cối phải được định vị trên bàn máy, lúc báy giờ chày sẽ chuyển động còn cối đứng yên và ngược lại cối chuyển động chày đứng yên. Nhưng giá trị ban đầu cần cài đặt là bao nhiêu cho phù hợp, vì hành trình di chuyển của chày và cối cung rất quan

trọng, ở ngoài thực tế trên máy dập khi điều chỉnh giá trị âm hay dương (lên, xuống) thì dễ hiểu nhưng khi sử dụng phần mềm Autoform thì giá trị âm, dương (lên, xuống) là sự phụ thuộc của giá trị trên Move và hướng chuyển động (Working direction) khi hai giá trị này nhân lại với nhau mà lớn hơn 0 thì nó di chhuyển theo chiều dương và ngược lại. Ta thấy trong hình chày được cài đặt nằm trên phần dương của trục Oz dù cho giá trị được nhập vào là -500, nhưng khi kết hợp với vector làm việc của Autoform thi nó lại nằm ở phần dương.

 

 

 

 

  Bider: đóng vai trò như bộ phận chặn phôi, nhưng vị trí ban đầu của nó trước khi tiến hành dập là ở cùng vị trí với chày, nhưng trong Autoform thì trước khi chày đi xuống tiếp xúc với phôi thì binder đã di chuyển xuống trước chặn phôi lại ( nó nằm trong bước closing của quá trình dâp tronh Autoform). Mục Columns cũng khác với cối và chày, với chỳ và cối ta có thể không chọn, nhưng đối với binder ta phải hoàn tất

 

 

việc chọn lựa này, nếu khôn Autoform se báo lỗi. Ở trên Tools name ta phải chọn

Above, tức nhiên binder lúc nào cũng nằm trên phôi.

 

 

 

 

  Add tool và detele tool: Trong Autoform có hổ trợ chức năng chèn thêm công cụ (chày, cối, binder) vào cũng như xóa đi một công cụ. Trong quá trình dập

 

 

để tạo ra một sản phẩm thì đôi khi không phải một chày, một cối và một binder có thể tạo ra sản phẩm như ta mong muốn. Mà phải có sự kết hợp của nhiều chày và cối để tạo ra một sản phẩm. Bởi vì nếu sử dụng một chày và cối thì rất khó để có thể tạo ra được hình dạng của chày và cối, và một vấn đề quan trọng hơn là khó tạo ra hình dạng của sản phẩm như ta mong muốn.

  Input generator > Blank: cài đặt các thông số cho phôi.

 

 

 

 

  Outline: cài đặt hình dạng bênh ngoài của phôi, Autoform cung cấp cho ta rất nhiều phương án để ta có thể cài đặt hình dạng bênh ngoài của phôi.

 Edit: dùng để cài đặt những thông số của phôi như góc (Angle), tâm (Center x, y) của phôi so với chi tiết. Các kích thướt của phôi (Length X, Length Y)

 

 

 

 

 Import: dùng để vẽ hình dạng của phôi ( bằng chuột phải) khi ta click vào lựa chọn này.

 Rectange: cài đặt hình dạng của phôi là hình chữ nhật, ta chỉ cần nhập góc nghiêng, tâm của phôi so với chi tiết và chiều dài, chiều rộng của phôi.

 Arc: hình dạng của phôi là hình tròn, ta chỉ cần nhập tâm và bán kính của phôi.

  Position: cài đặt tọa độ định vị của phôi

  Properties:

 Thickness: độ dày của phôi.

 Material: để cài đặt tên vật liệu ta vào Import thì Autoform sẽ mở hộp thoại Select material cho ta chọn vật liệu. Autoform cung cấp cho ta rất nhiều vật liệu theo tiêu chuẩn của Nhật, Châu Âu và Hoa Kỳ. Còn để xem đường cong chảy của vật liệu ta vào View, ở đây nó cũng cung cấp cho ta các thông số dị hướng.

 

 

 

- Input generator > Lube: cài đặt các thông số cho dầu bôi trơn. Chất bôi trơn có thể chia làm hai thành phần chính:

  Các chất bôi trơn không có chất độn không tạo được màng chắn bền vững và dễ dàng bị ép ra bề mặt của phôi và dụng cụ.

  Các chất bôi trơn tốt nhất khi chịu áp lực cao là những chất bôi trơn có chất độn dưới dạng bột phấn hoạt thạch đặc biệt là graphít hay bột gỗ.

Trong dập tạo hình dầu bôi trơn vô cùng quan trọng vì khi sử dụng những chất bôi trơn như vậy, ngoài việc nâng cao được mức độ biến dạng cho thép, còn nâng cao tuổi thọ của khuôn (đặc biệt là cối vuốt) bởi vì những chất độn này là lớp ngăn cách giữa phôi và dụng cụ.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trong Autoform có 3 chế độ ta cần phải cài đặt Constant, Above/Below và Table. Vậy thì khi nào ta chọn Constant, khi nào ta chọn Above/Below hay Table ? Để chọn được thì ta phải dựa vào hệ số ma sát giữa vật liệu đưa vào dập và chày với cối. Trong Autoform các hệ số ma sát được mặt định là 0.15.

  Constant: được chọn khi hệ số ma sát giữa vật liệu đưa vào dập và chày với cối là giống nhau.

  Above/Below: được chọn khi hệ số ma sát ở trên phôi với chày

(cối) và ở dưới phôi với cối (chày) là khác nhau.

 

 

 

 

  Table: cho phép ta nhập những giá trị khác nhau của hệ số ma sát của phôi, chày và cối.

 

 

 

 

 

 

là F = P. µ


Nếu áp lực lên phôi và chi tiết là P cò hệ số ma sát µ , thì lực ma sát

 

 

Cách chọn hệ số ma sát trong tính toán ứng suất và biến dnạg:

 

a. Trong quá trình gia công áp lực nguội, dầu bôi trơn không bị ép ra ngoài, thì hệ số ma sát được chọn như sau:

 

Bề mặt dụng cụ đánh bóng:

Bề mặt bị mòn:


µ = 0.04 ÷ 0.08

µ = 0.09 ÷ 0.12

 

b. Trong quá trình gia công áp lực, dầu bị loãng, dễ bị chèn ép ra ngoài, khi

đó hệ số ma sát có giá trị:

 

Bề mặt dụng cụ được đánh bóng tốt:

Bề mặt bị mòn:


µ = 0.08 ÷ 0.12

µ = 0.13 ÷ 0.20

 

c. Trong quá trình biến dạng, ma sát của dụng cụ chế tạo bằng thép lớn hơn ma sát của dụng cụ chế tạo bằng hợp kim cứng.

µthep > µHKcung > µdaxaphia

d. Trong quá trình biến dạng dẻo nóng

 

Nếu có chất bôi trơn:

Không bôi trơn:


µ = 0.20 ÷ 0.25

µ = 0.30 ÷ 0.45

 

e. Hệ số ma sát một số kim loại

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hệ số ma sát của kim loại khi biến dạng. Trong đó V1-tốc độ < 1m/s, V2-tốc độ > 1m/s và điều kiện va đập. khi dùng chất bôi trơn cho gia công nóng,

 

có thể dùng cho giá trị 85-87% số liệu trong bảng để chọn chất bôi trơn, Tnc

nóng chảy, K.


hiệt độ

 

 

 

 

 

 

  Input generator > Process: cài đặt chế độ hoạt động của công cụ. Trong Autoform mặc định cho quá trình dập gồm 3 bước là gravity, Closing, Drawing, tương ứng với 3 chế độ này thì chày, cối và binder cũng có vận tốc và lực tác dụng lên nó cũng khác nhau, bước Gravity và Closing thường rất ngắn.

 

 

 

 

 

  Gavity: ở bước này thì chày được cố định trên đầu búa và búa vẫn còn nằm ở điểm chết trên chuẩn bị đi xuống. Còn cối nằm ở dưới bàn máy, cả chày và cối vẫn còn đứng yên. Còn các ký tự Downwards và Upwards dùng để xác định hướng của trọng lực trên tấm kim loại.

• Non-active: ta thấy cả trên Puch và binder cùng một lựa chọn đó là Non- active, vậy Non-active có nghĩa là gì trong phần mềm Autoform này? Non-active có nghĩa là chỉ đứng yên trong một bước, ứng với bước này thì Puch và binder đứng yên, còn bước khác thì có thể nó chuyển động.

• Stationary: đứng yên trong cả quá trình mô phỏng.

• Show on: Ẩn hay hiện các công cụ.

  Closing: binder di chuyển xuống chặn phôi lại, còn chày và cối vẫn còn

 

đứng yên.


 

 

• Displacement: Các công cụ di chuyển trong một phương được chỉ ra trong

 

WorkingDir ở trong ToolDefinition. Displacement dùng để cài đặt vận tốc của công cụ,

ở bước này thì nó cài đặt vận tốc của binder, có nghĩa là trong bước này binder di chuyển xuống chặn phôi lại. Giá trị vận tốc của Autoform mặc định lá 1 m/s.

• Force: Cài đặt lực tác dụng lên công cụ. Trong Autoform giá trị lực do binder tác dụng lên phôi được mặc định là 3N/mm 2 .

 

 

 

 

  Drawing:

 

 

• Until time: chỉ ra thời gian kết thúc của bước này trong quá trình mô phỏ của

Autoform.

• Until Closure: tương tự như Until time, chỉ khác là nó có kết hợp với công

 

cụ.


 

 

• During time:

 

 

 

 

  Input generator > Control:

  Main:

 

 

 

 

 

  Rslts:

 

 

 

 

  Misc:

 

 

 

 

  Input generator > File:

 

 

 

 

 

  Input generator > Add:

 

 

 

  Input generator > Job:

 

 

 

  Input generator > Create:

 

 

 

  Optimization: dùng để tối ưu hóa

  Trim:

2.2.6.MENU RUN

 

- Run > Info: những thông số của chi tiết mô phỏng cũng như thời gian và ngày tháng mô phỏng.

 

 

- Run > Monitor: những thông số có liên quan đến máy tính của bạn

 

 

 

 

- Run > Star simulation/View log: khởi động quá trình mô phỏng

 

 

 

 

- Run > Star optimization: khởi động quá trình tối ưu hóa phôi.

Run > Start/manage trim: khởi động quá trình Trim

2.2.7.MENU RESULT

 

 

 

-     Result > Result variables: dùng để thay đổi các biến kết quả của mô phỏng.

 

 

 

-     Result > Show max: xuất hiện vị trí có kết quả lớn nhất.

-     Result > Show min: xuất hiện vị trí có kết quả bé nhất.

-     Result > Ranges: mở hộp thoại Autoform – min/max editor dùng để thay đổi giá trị của dãy màu.

 

 

 

 

-     Result > Formability: dùng để mở hộp thoại Autoform Formability, hộp thoại này dùng để điều khiển sự hiển thỉ của kết quả mô phỏng.

 

 

 

 

 

-     Result > Process data: mở hộp thoại Process data là hộp thoại thể hiện mối quan hệ của lực với thời gian mô phỏng

 

 

 

 

 

 

 

hạn


-     Result > mở hộp thoại Autoform FLD là hộp thoại thể hiện đường công giới

 

 

 

 

-     Result >

-     Result >

2.2.8.MENU TIME

 

- Time > Animate star/stop: tắt hay mở quá trình mô phỏng

- Time > Animate: mở hộp thoại Animate Options là hộp thoại dùng để thay đổi quá trình mô phỏng.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

phỏng.


- Time > Simulation begin: giai đoạn bắt đầu quá trình mô phỏng.

- Time > Next process step: giai đoạn kế tiếp của quá trình mô phỏng.

- Time > Previous process step: quay lại giai đoạn phía sau của quá trình mô

 

- Time > Simulation end: giai đoạn kết thúc của quá trình mô phỏng.

- Time > Times: thời gian của các giai đoạn mô phỏng.

2.2.9.MENU DISPLAY

 

 

 

- Display > Fill styles: dùng để thay đổi dạng của mô hình là dạng lưới hay ở

dạng khối.

 

 

 

 

- Display > Shading options: dùng để thay đổi màu sắc và hình dạng của mô hình trơn hay không.

 

 

 

 

 

- Display > Lights: thay đổi màu sắc và độ sáng tối của mô hình ta mô phỏng.

 

 

 

 

- Display > Live value: nếu chọn vào biểu tượng này thì khi ta di chuyển chuột trên màng hình, thì sẽ xuất hiện một con trượt báo kết quả sẽ chạy theo tương ứng với kết quả mà vị trí chuột ta di chuyển.

 

 

- Display > Bottom bar: ẩn đi con trượt điều chỉnh thời gian và tỷ lệ của kết quả

mô phỏng ở dưới màng hình của Autoform.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

- Display > Right bar: ẩn đi các biểu tượng kết quả bênh trái màng hình

Autoform.

 

- Display > Clear all labels: dùng để xóa tất cả các tọa độ mà ta đã click trên mô hình. Ta cũng có thể nhấn Esc để thay thế lệnh ở trên.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

- Display > Clear last label: cũng giống như lệnh Clear all labels, chỉ khác là nó xóa từng điểm theo thứ tự là điểm càng chọn sau thì càng bị xóa trước.

- Display > Select: dùng để chọn một phần diện tích hay những chi tiết mà ta cần

 

chọn phỏng.


 

 

- Display > Select zones: dùng để lựa chọn một phần nào đó khi ta đang mô

 

- Display > Select all (Ctrl-K): dùng để lựa chọn tất cả các mô hình một lần nửa.

- Display > Dynamic section (Ctrl-D): nhìn vào mặt cắt của chi tiết.

 

 

 

- Display > Geometries: lệnh này đại diện cho mô hình CAD ta nhập vào, nhờ

lệnh này mà ta có thể mở riêng từng hộp thoại của mô hình CAD.

 

 

 

 

- Display > Tools (Ctrl-T) tương như lệnh Geometries chỉ khác là nó dùng với các công cụ như die, puch, binder.

 

 

 

 

- Display > Lines (Ctrl-L) tương như lệnh Geometries chỉ khác là nó dùng với các

đường thẳng.

 

 

 

 

 

- Display > Colors scale: dùng để định nghĩa dãy màu của kết quả mô phỏng

 

 

 

 

- Display > Colors: dùng để định nghĩa màu của các trong Autoform như phôi, công cụ, binder…

 

 

 

 

2.2.10. MENU VIEW

 

 

- View > From +X, From +Y, From +Z: lần lượt nhìn trong mặt phẳng Oyz, Oxz, Oxy của Autoform và có các trục Ox, Oy, Oz quay ra.

- View > From -X, From -Y, From -Z: lần lượt nhìn trong mặt phẳng Oyz, Oxz, Oxy của Autoform và có các trục Ox, Oy, Oz quay vào.

- View > Diagonal view: nhìn nghiên

- View > Fit to window: nhìn chi tiết lớn nhất trên màng hình

- View > Save view: Lưu lại hướng nhìn

- View > Restore: quay lại hướng nhìn đã lưu

2.2.11. MENU OPTIONS

 

- Options > 2D/3D measurement:

- Options > Vector measurement:

- Options > Curve measurement:

- Options > Radius measurement:

- Options > Label object/coord

- Options > Label face info:

- Options > Pick faces:

- Options > Select crossing:

CHƯƠNG 3:

 

 

PHẦN 3: ỨNG DỤNG PHẦN MỀM AUTOFORM TRONG DẬP TẤM

 

 

CHƯƠNG 1: ỨNG DỤNG TRONG MÔ PHỎNG

 

 

 

 

 

- Start > Programs > Autoform 3.2, lúc bấy giờ giao diện chính của Autoform

được khởi động lên như hình:

 

 

 

 

 

 

- File > New, hộp thoại New file của Autoform được mở ra, trên hộp thoại này có các thông số ta cần phải định nghĩa:

  File name: trên khung này là phần đặt tên của chi tiết ta cần mô phỏng, đối với Autoform thì những thông số hay dữ liệu nào quan trọng mà chưa thiết lập hay có lỗi

trong quá trình thiết lập thì nó sẽ nổi đỏ lên. Dó đó, chúng ta cần thiết lập đầy đủ tất cả

các thông số thì Autoform mới hoạt động. Chúng ta cũng dễ nhận ra khung nhập tên

(File name) của Autoform nổi đỏ lên. Ta đặt tên là “ Dap sau”

  Units: phần cài đặt đơn vị cho Autoform được chia ra làm hai cột:

  Length: đơn vị của độ dài gồm có: mm, m và inch ta chọn “mm”

  Force: đơn vị của lực gốm có: N và pounds ta chọn đơn vị là “N”

  Geometric error tolerance: dung sai của mô hình ta mô pbỏng ta chọn mặc

định là “0.1”

 

 

  Import geometry: chọn loại đuôi của file ta cần xuất ra để mô phỏng, mặc định của nó là “IGES” là dạng trung giang của các mô hình CAD khi xuất từ phần mếm này qua mô hình khác.

  Filter: phần này là nơi chỉ đường dẫn tới mô hình CAD ta cần mô phỏng, ta cũng không cần chú ý mục này, hai phần ta cần chú ý nhất là “Directories” và “Files” được giới thiệu sau đây.

  Directories: đây là khu vực rất quan trọng, nó là nơi mà ta chỉ đường dẫn

đến file chứa mô hình CAD bằng cách nhấn phím “Enter” hay “Double click” chuột. Nhưng để thực hiện được vấn đề này ta cần phải chú ý những đặc điểm sau:

  Trong khung của Directories có 6 hàng thì hàng đầu tiên là folder

“cha” nó chứa các folder “con” là hàng 3, 4, 5, 6. Còn hàng thứ 2 và thứ 1 nếu ta so sánh thì nó hình như hoàn toàn giống nhau, nhưng hàng thứ 2 có công dụng là “back” lại khi ta nhấn phím “Enter” hay “Double click” chuột vào nó.

  Ta có hai phương pháp để xuât file: phương pháp thứ nhất là tạo một folder trong folder Exceed và sau đó copy mô hình CAD vào trong folder mà ta vừa tạo ra thì ta không cần phải back lại; phương pháp thứ 2 là ta tạo một folder trên ổ đĩa mà

ta đã cài Autoform và chỉ đường dẫn đến đó. Một vấn đề cần chú ý là Autoform không

thể chỉ dường dẫn ra ngoài phần ổ đĩa cứng mà nó cài vào.

  Files: khung chứa tên file ứng với đuôi mà ta đã thiết lập ở trên “Import geometry”

  Selection: khung chứa đường dẫn mà ta cần xuất file

 

 

 

 

 

 

 

 

 

- Sau khi thiết lập các thông số ta dược như hình trên

- Click vào Advanced thì cửa sổ “Mesher parameter” mở ra nhhư hình dưới: sau

đây là các thông số trên của sổ trên:

  Parameters:

  Error tolerance: dung sai có mặc định là 0.1 mm như ở New file.

Nhưng ta có thể thay đổi nó, Đặc biệt những kích thước nhỏ (bằng hay nhỏ hơn 2mm) ta có thể dùng dung sai nhỏ đến 0.05mm

  Max side length: chiều dài lớn nhất của các chi tiết và nó có mặc định

 

là 50.


 

 

  Faces:

  Treat only: Xác định những mặt phẳng được chia lưới

  Exclude: Chỉ ra những mặt phẳng không được chia lưới.

  Layers:

  Treat only: Xác định những mặt phẳng được chia lưới

  Exclude: Chỉ ra những mặt phẳng không được chia lưới.

 

 

 

 

 

- Click vào Ok > nhấn Enter hộp thoại Geometry generator xuất hiện

 

 

 

 

- Trên Prepare:

 

 

 

 

 

dưới.


  Tool setup ta chọn biểu tượng:                    có nghĩa là cối được nằm ở phía

 

  Define objects: đến đây ta cần phải thiết lập mặt phẳng liên kết (binder)

 

giữa chi tiết dập (part) và click chuột phải vào mặt phẳng binder, khi đó mặt phẳng này phải hiện lên những đường gạch màu vàng như hình. Sau đó trở lại hộp thoại Geometry generator click vào “binder” khi đó mặt phẳng binder mà ta đã chọn sẽ biến mất chỉ còn lại đường biên của nó.

 

 

 

 

  Part boundary:

  Error tol (error tolerance): dung sai ta chọn mặc định là 0.1

  Concatenation distance: khoảng cách nhỏ nhất giữa hai điểm trên biên,

được mặc định là 30.

  Outer trim:

  Inner trim:

- Cuối cùng ta chọn “Apply” khi đó Autoform phải nhận được đường biên, có nghĩa là nó phải apply được 100% thì bấy giờ đường biên của chi tiêt sẽ hiện lên màu

xanh. Đồng thời task “Prepare” cũng hiện lên màu xanh (như hình), đấy cũng là dầu hiệu

cho thấy được sự thành công của những thông số ban đầu mà ta đã thiết lập. Trên task bar của hộp thoại Geometry generator còn có những task mà ta sẽ hoàn thành, nhưng trên đó có những task chúng phhụ thuộc nhau, khi hoàn thành task này thì mới thực hiện task kia được ví dụ như task “addndm” phụ thuộc vào task “prepare” và task “ bider”.

 

 

 

 

 

 

- Fillet Check radius: 2.00 > Check

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

- Geometry generator > Tip

 

 

 

b) Generate simulation input

 

 

- Model > input generator > Simulation type > Incremental

 

 

 

 

- Ta cài đặt cho hộp thoại Simulation type như hình trên. Nó gồm có dạng mô phỏng là Incremental, Trong Tool setup ta chọn cối nằm ở dưới và cối được chọn mặc định là chuyển động theo phương của trục Z, tấm kim loại dày 0.8 (đây cũng là giá trị mặc định) và trên Geometry refers to thì ta chọn “Punch side” (trang 14 base)

- Click vao “Ok” để mở hộp thoại Input generator lên. Trên hộp thoại này mặc định là có 6 task, ta có thể chèn thêm vào 2 task nửa bằng cách là vào Create chọn thêm Optimization hay Trim. Những task có màu đỏ buộc ta phải cài đặt những thông số vào, còn lại thì đã được mặc định.

 

 

 

 

 

- Trên task “Title” có 2 mục là:

  Title: đây là nơi ghi tiêu đề của Autoform, nó gồm có tên của mô phỏng ma ta đang làm là “Dap sau”, tên của máy chủ và ngày tháng ta thực hiện công việc mô phỏng này. Ta có thể thay đổi được những thông số này bằng cách click chuột vào.

 

 

  Comments: đây la nơi mà ta có thể ghi những vấn đề cần chú ý hay có liên quan đến mô phỏng.

- Task “Tools”, trong đây gồm có 3 phần là: die, puch, binder nhưng chỉ có mục binder là hiện đỏ lên có nghĩa là ta cần phải cài đặt thông số ở đây còn 2 mục còn lại có

thể chọn mặc định. Ta chon: Tools > binder > Tool center

 

 

 

 

 

 

 

 

- Trên task Blank là nơi để cài đặt các thông số về phôi ta đưa vào dập.

  Outline: cài đặt hình dạng bênh ngoài của phôi có thể là hình chữ nhật (Rectangle), hình tròn (Arc). Ta chọn “rectangle”, hộp thoại Blank outline hiện ra trên Length X ta chọn 430, còn trên Length Y ta chọn 340. Kích thướcnhư thế đã đủ để phủ toàn bộ chi tiết.

 

 

 

 

 

 

 

Chú ý khi vừa thiết lập thông số xong thì trên màng hình phải hiện ra như ở hình dưới.

 

 

 

 

 

 

liệu cho phù hợp


  Position: ta có thể chọn mặc định.

  Material: chọn vật liệu, ta có thể click vào import để lựa chọn vật

 

 

 

- Lube: dầu bôi trơn, ta chọn là như hình

 

 

 

 

 

- Còn trên task process ta thực hịên những bước sau:

  Gravity > Gravity: Downwards > Tool control > Show all > Gravity

 

 

  die: Stationary

  punch: Non-active

  binder: Non-active

 

 

 

 

 

  Trên closing:

 

 

  Tool control > Show all

  die: Displcmnt > Stationary

  punch: Non-active

  binder: Displcmnt > 1> set

  Duration > During time > Time: 500

 

 

 

 

 

 

 

 

  Trên drawing:

  die > Stationary

  punch: Displcmnt > Velocity: 1 > Set

  binder > Force > Relative tool: die > Const pressure > Value: 3 > Set

  Duration > During time > Time: 500

 

 

 

 

 

- Trên Task control

  Trên main ta chọn như hình, chỉ có phần Bending effects nếu kim loai dày hơn 1.5mm thì ta chọn Thicksheet/Springback in later restar.

 

 

 

 

  Trên Rslts

  Rslts > Contact distance above

  Rslts > Contact distance below

  Rslts > Curvature failure

 

 

  Trên Mics chon mặc định

 

 

 

 

- Hoàn thành tất cả các bước ta click Job > Start > simutalion hộp thoại Start job

được mở ra như hình, click vao start để bắt đầ quá trình mô phỏng.

 

 

 

 

 

- Kết thúc quá trình phân tích

 

 

 

 

 

- File > Reopen

- Time > End of simulation hay ta nhấn phím Ctrl – E để đưa ta đến kết quả cuối cùng của quá trình phân tích. Và ta cũng có thể di chuyển nhờ thanh truợt ở dưới để xem

các bước mô phỏng.

 

 

 

 

- Click vào biểu tượng (Formability)

 

 

 

 

 

- Ta có kết quả như sau:

  Cracks: phần diện tích bị nứt, trên sản phẩm ta phân tích thì không có

 

phần này.


 

 

  Excess. Thinning: phần diện tích bị biến mỏng lớn hơn giá trị có thể

 

chấp nhận được.

  Risk of cracks: phần diện tích có thể bị nứt mà ta không thể biết trước

 

được.


 

 

  Safe: đây là khu vực an toàn nhất so với những khu vực khác và quá

 

trình biến dạng là không có vấn đề gì.

  Insuff. Stretching: Areas that have not enough strain

  Wrinkling tendency: khu vực có xu hướng sẽ bị nhăn

Wrinkles: khu vực bị nhăn, phần diện tích bị nhằn này nó còn phụ thuộc vào vật liệu, đường cong hình học của chày và cối và cũng như sự tiếp xúc giữa chúng lại với nhau.( Wrinkles: Areas where wrinkles can be expected, depending on geometry curvature,

 

 

thickness and tool contact.Material in these areas has compressive strains which means the material becomes thicker during the forming

process.) Kim loại bị biến dạng nén trong quá trình biến dạng dẻo làm cho trên tấm kim loại có những nơi dày hơn.

- Trong mô phỏng trên thì khu vực bị nhăn chủ yếu nằm ở ngoài biên, và không

có những nơi quá mỏng mà, chúng có thể vượt qua giá trị cho phép.

- Bây giờ ta hãy click vào biểu tượng  (Thinning) thì ta thấy được bề dày của chi tiết được thể hiện bằng màu và biến đổi từ màu xanh đến màu vàng. Ta có thể biết

giá trị của nó bằng cách click chuột phải vào nơi ma ta cần biết bề dày của nó, nếu muốn bỏ lựa chọn này đi thì nhấn phím Esc. Còn muốn biết chổ nào trên chi tiết là biến mỏng

lớn nhất và nhỏ nhất và có giá trị bao nhiêu thì ta thực hiện các bước sau.

  Results > Show max

  Results > Show min

 

 

 

 

 

- Để thay đổi khoảng biến thiên của dãy màu trên ta có thể vào Result > Ranges, khi đó sẽ xuất hiện hộp thoại Autoform - Min/Max Editor như hình dưới:

 

 

 

 

- Trong hộp thoại trên thì:

  Min/Max Simulation: dãy màu là tập hợp tất cả các kết quả của mô phỏng từ giá trị lớn nhất đến giá trị nhỏ nhất khi mô phỏng đã kết thúc. Khi đó sự phân bố màu trên chi tiết sẽ đầy đủ hơn và chình xác hơn.

  Min/Max Increment: dãy màu là kết quả của mô phỏng từ giá trị nhỏ nhất

đến giá trị lớn nhất khi mô phỏ đang diễn ra.

  Simulation default: dãy màu là kết quả của quá trình mô phỏng được cài

đặt mặc định trong máy.

  Manual: cho phép ta thay đổi giá trị của dãy màu từ gía trị lớn nhất đến giá trị nhỏ nhất.

- Bây giờ ta thử thay đổi giá trị trong Manual là: Min. 0.0 Max. 0.05. Thì kết quả

sẽ nhận được như hình:

 

 

 

 

 

 

- Ta thấy trên chi tiết cò màu thay đổi đi rất nhiều, và ta nhìn thấy rõ ràng hơn từ khu vực bị biếi mỏng, sự thay đổi dãy màu này giống như ta phóng to hay thu nhỏ một hình nào đó để quan sát chính xác hơn.

- Để xem quá trình mô phỏng ngoài kéo con trượt ở dưới mang hình ta có thể vào

Time > Animate thì hộp thoại Animate options xuất hiện.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

- Ta có thể cài đặt cho cối hay chày chỉ đi xuống khi vào Direction > Down hay lên xuống Direction > Down & Up, dập liên tục Duration > Forever hay một lần Duration > One

- Với những bước phân tích trên ta nhận thấy ký hiệu                                        của

hiện tượng đàn hồi ngược trên màng hình vẫn chưa sáng lên.

Bây giời ta hãy vào: Model > Input Generator > Process > Add process step

 

 

 

 

- Khi đó hộp thoại Add process step sẽ xuất hiện ta hãy click chọn Springback > Add process step

 

 

 

 

- Khi đó Autoform sẽ trở về hộp thoại Input generator, ta chú ý thấy trên hộp thoại có thêm một task nửa là Springb (Springback) ở dưới task Drawing

 

 

 

 

- Job > Star simulation/View log.. > Save as > Dap sau springback > Ok > Start

 

 

 

 

 

- Kết thúc quá trình mô phỏng thì biểu tượng của hiện tượng đàn hồi ngược đã sáng lên và kết quả của quá trình mô phỏng không tốt như lúc đầu.

Nó có thêm những vết nứt ở gốc của sản phẩm và những vùng bị

biến dạng do hiện tượng đàn hồi ngược, những vùng biến dạng này bị uốn cong vào trong. Đó là những lỗi mà ta cần phải khắc phục.

 

 

 

 

 

- Với hiện tượng rách ta có thể sử dụng một số biện pháp để khắc phục nó như:

  Giảm lực chặn phôi

- a

CHƯƠNG 2: ỨNG DỤNG TRONG THIẾT KẾ KHUÔN

 

THIẾT KẾ KHUÔN

 

AutoForm-DieDesigner đã được dùng như một công cụ đánh giá trong giai đoạn đầu của thiết kế và là công cụ để đánh giá những khái niệm cho mô phỏng quá trình dập sâu. Các chức năng của AutoForm-DieDesigner phản ánh các yêu cầu này:

• Tự động hoá biến filleting sắc nét hình học của vành

• chức năng xác định hướng khuôn

• Tự động hoá và tương tác của điền lỗ, ranh giới hoặc điền

điền mặt khuôn của thế hệ giữa hai phần đính kèm

• Điều chỉnh các công cụ và một phần geometries

• Tự động hoá hay sửa đổi một bề mặt binder.

• Tự động hoặc tương tác của thế hệ bên ngoài hay bên trong addenda

 

 

Các công cụ được hiển thị trên màn hình chình của giao diện sử dụng tạo tiện ích cho người sử dụng, Hơn nữa, việc bổ sung các công cụ trên mặt giao diện làm cho các quá trình mô phỏng và thiết lập thực hiện dễ dàng hơn, nhanh chóng hơn. Như cho các mô-đun AutoForm nhiều quá trình chạy trong nền tự động mà không có người can thiệp. Tất cả các thành viên và cài đặt đầu vào sẽ được lưu trong mô phỏng tập tin để có thể dễ dàng sửa đổi, bổ sung. Tương tự, thông số các cấu trúc dữ liệu cho phép tự động thiết kế lại. Nếu người dùng thay đổi các binder ví dụ, tất cả các cấu hình được điều chỉnh phù hợp để hình học mới bằng cách nhấn một nút chỉ. Thậm chí là một người đầy đủ thay đổi một phần hình học là được cho phép, toàn bộ addendum sẽ thay đổi tự động. Một mục tiêu là tự động tối ưu hóa của addendum. AutoForm-Tối ưu hóa được tích hợp đầy đủ trong AutoForm-gia tăng, AutoForm-OneStep và các giao diện người sử dụng. AutoForm-DieDesigner chưa được phát triển để thiết kế một đầy đủ nối tiếp công cụ. Cần thiết, bề mặt chất lượng nên được đảm bảo bởi bằng cách sử dụng một hệ thống CAD-. Theo yêu

cầu CAD-giao diện (IGES, VDAFS) đang triển khai thực hiện trong phiên bản này đến một mức độ lớn.phiên bản hiện nay là 3,1 thứ hai DieDesigner-phát hành. Ngoại trừ các nghiên cứu và phát triển vẫn còn có một số chức năng mà yêu cầu

nâng cao hơn nữa. Ở đây là những chi tiết:

• Tự động laid-out flanges

• Họ và việc triển khai thực hiện của phần symmetric

 

 

 

 

 

Cơ bản chức năng nhiệm vụ

Bằng cách sử dụng một phần hình học đơn giản, ta mô tả cơ bản các thủ tục cho các thế hệ addendum một trong AutoForm-DieDesigner. Phần hình học được import và một binder được tạo ra tự động. Chúng tôi cho thấy parametrically sẽ được tạo ra khuôn mặt tự động điều chỉnh phù hợp, nếu binder là sửa đổi. Cuối cùng, ta có thể xuất bề mặt và cong.

 

 

Tạo ra một mô phỏng mới

Giao diện người sử dụng File > New

 

 

Hình. 1,1

Hộp thoại New file

Sử dụng các cài đặt mặc định cho các đơn vị và dung sai. Nhập các thông tin sau

Tên tập tin:

File name: Thietkekhuon_luanvan> OK

 

 

Phần đọc hình dạng chi tiết

Trong hộp thoai New file, khung import geomertry chọn geometry format để định

dạng kiểu file chi tiết muốn xuất, ở đây ta chọn .igs . tiếp đến xuống khung filter

để tìm đến địa chỉ đặt chi tiết rồi nhấn ok để xuất chi tiết ta muốn.

 

 

 

 

 

 

Dạng hình học chi tiết tự động được gán cho các phần đăng ký. Đồng thời, chi tiết được hiển thị trong màn hình chính và các trang Geometry generator opens được mở ra. Sử dụng Hiển thị phần chức năng để chuyển đổi on / off hiển thị của chi tiết đăng ký.

 

 

 

 

 

Tạo ra các phần ranh giới

Để sử dụng các tính năng của The Geometry generator , các phần ranh giới

phải có sẵn. Tạo ra các phần ranh giới bằng cách nhấp chuột phải vào chi tiết , phần ranh giới được thể hiện bằng một màu xanh dòng.

 

 

 

 

Tạo ra mặt liên kết( Binder) dùng Autobinder

Trong hộp thoại The Geometry generator vào tap Binder chon Auto

 

 

 

 

Tạo ra một Outer Addendum

Về nguyên tắc, bạn có thể tạo ra bên trong và bên ngoài addendum với

DieDesigner. ở đây em chọn bên ngoài addendum

 

 

Addendum    Add addendum ... > Pick curve: Curve1 > OK

trang Addendum được hiển thị trong Hình. 1,4:

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Một khuôn dập vẽ thông thường bao gồm các phần chi tiết, mặt binder

và một addendum. Trang Addendum của Geometry Generator chứa tất cả các chức năng để tạo ra hoặc sửa đổi bên ngoài hoặc nhiều bên trong addendum

 

 

 

The Addendum page (one outer and two inner addenda)

 

 

 

 

 

Nút quan trọng trên trang Addendum

• Add addendum: Tạo một bên ngoài hoặc nếu cần thiết thì tạo một bên trong addendum.

• Delete addendum:: Xóa addendum hiện hành.

• Add  prf ...: Tạo một profile riêng.

• Delete prf: Xóa profile hiện hành.

• Lines ...: Hiệu chỉnh các đường mở chày (PO chiều rộng), chiều cao bar

 

 

(CB chiều cao), hoặc nhập một  đường mở punch .

• Directions ...: Thay đổi phương hướng profile.

• binder ...: Đưa ra các bề mặt binder bên trong .

 

 

Hộp thoại Advanced profile parameter

 

 

Thêm tham số cho các profile tự tạo có thể được  bằng cách nhấn nút Advanced

... .

 

 

 

Thay đổi tham số Advance profile

Các tham số có thể được thay đổi bằng cách nhập giá trị mong muốn hoặc bằng cách dùng chuột chọn và kéo nét đứt trên biểu đồ.

 

 

 

 

Hai đường đứt nằm ngang mô tả chiều cao bar và chiều cao bar tính

 

 

Hai đường đứt nằm dọc mô tả vị trí đường mở chày(PO width) và the bead width

 

 

 

 

Trong AutoForm, các addendum được tạo ra từ những đường profile cơ bản

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Master profile được hiển thị trên trang Addendum là profile tham khảo cho các từng đối tượng profile. Các thông số quan trọng của the addendum ( bars, radi và góc độ) được xác định bởi master profile. Chiều cao và độ dài khác nhau cho những khoảng cách khác nhau giữa chi tiết và binder.

Ngoài ra, nó có thể tạo ra bất kỳ hình thức addendum bằng cách sửa thông số profile.

 

 

Sửa đổi các Master profile

 

Hiệu chỉnh Punch-oppenning - widthd

Sửa đổi punch - oppenning trên trang Addendum : PO: 50

Bấm vào dọc đường dây và di chuyển nó vào khoảng 50 mm> Apply

 

 

Khuôn dập được hiển thị trong màn hình chính.

 

 

Mở rộng các bề mặt binder

Trở lại trang binder :

Binder    Adv> Min flange width: 200> Apply

Bề mặt Binder đã được mở rộng, nhưng trang Addendum

hiển thị màu đỏ. Đây là, bởi vì addendum chưa được kết nối với bề mặt binder mới tạo.Đến Trang Addendum:

Addendum   Apply

Khuôn dập với bề mặt binder mới được tạo ra.

 

 

Thay đổi Bán kính Khuôn :

Chúng ta sẽ thay đổi bán kính khuôn tại góc thấp bên trái (từ z xem).

 

 

Về đến trang Addendum : Addendum                   Option> Show all

 

 

Tạo thêm các profile

Để thay đổi bán kính khuôn là cần thiết để xác định một số profile cá nhân để sửa

đổi chúng sau đó. Các profile cá nhân có thể khác nhau

Định nghĩa của các profile cá nhân:

Add prf … > Select > Profile: 64 > Add Add prf … > Select > Profile: 68 > Add Add prf … > Select > Profile: 75 > Add Add prf … > Select > Profile: 79 > Add

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Ngoài ra, lựa chọn các profile với nút chuột phải:

Profile 64 > Add Profile 68 > Add Profile 75 > Add Profile 79 > Add

Các profile cá nhân phải hiển thị trên hình, profile cá nhân (đánh dấu màu đỏ) Lưu ý: Việc Xác định profile có thể được sao chép: Chọn profile với

nút chuột phải và trong khi giữ nút chuột kéo xuống chọn các profile. Thoát chuột

 

 

ở vị trí mong muốn.

 

 

Hiệu chỉnh profile riêng về bán kính khuôn

 

 

Chọn profile 75 trên trang Addendum :

Advanced ... > Die radius: 50 > Enter > Dismiss

Chọn profile 68:

Advanced ... > Die radius: 50 > Enter > Dismiss

và cuối cùng là nhấn vào Apply

The addendum sẽ được hiển thị như trong Hình. 1,7:

 

 

Lưu ý: Modifications profile riêng chỉ ảnh hưởng đến các vùng lân cận của nó.

 

 

Tạo ra một bar

Như mô tả ở trên bốn profile riêng có cấu hình phải được xác định

 

 

để tạo ra các bar sửa đổi, bổ sung: Các profile ngoài (delimiters)

và profile trong phải cố định sơ để hiệu chỉnh. Hiệu chỉnh sẽ xảy ra giữa hai profile bên trong và chuyển ra profile ben ngoài. Trong trường hợp này, ngoài profile hiện tại 79, ta bổ sung them 3 profile nữa

 

 

Định nghĩa của profile them vào:

Addendum   Add prf … > Select > Profile: 83 > Add

Add prf … > Select > Profile: 96 > Add

Add prf … > Select > Profile: 100 > Add

 

 

Ngoài ra, ta có thể lựa chọn các profile với nút chuột phải:

 

 

Profile 83 > Add Profile 96 > Add Profile 100 > Add

 

 

kích hoạt profile 96(trên tab trang Addendum hoặc lựa chọn các profile trong màn hình hiển thị). Chọn mẫu profile bên phải (Bar).

 

 

Để sửa đổi profile, nhấp chuột vào các dòng ngang và di chuyển nó đến một chiều cao của 10 mm, hay chỉ cần nhập:

Heights: > Bar: 10

 

 

Làm như thế với profile 83 và cuối cùng là nhấn vào Apply

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hiệu chỉnh các bar

Kích hoạt profile 96 và chọn mẫu profile thứ 5 (Step). Làm như trên với profile 83 cuối cùng là nhấn vào Apply Hình. 1,8

 

 

 

 

 

 

Addendum sau khi hiệu chỉnh bar

 

 

Việc sửa đổi The punch open line(Đường Mở chày)

 

The punch open line được tạo tự động, sẽ được sửa đổi bây giờ. Sử dụng lệnh:

Addendum         Lines ... > PO width: > Edit ...

Đường cong soạn thảo sẽ mở ra. Sử dụng nút chuột phải nhấn vào một

node và kéo nó. The punch open line bây giờ đã sửa đổi. Điểm có thể được thêm vào, xoá và di chuyển theo cách này cho đến khi The punch open line được hiển

thị. Bấm vào OK để chấp nhận line và sau đó điều chỉnh các cấu hình mới với The punch open line mới.

 

 

 

 

Hình. 1,9

Sửa đổi Đường mở chày

 

 

Ngoài ra, ta có thể sửa đổi toàn bộ :

Addendum       Lines ... > PO width: > Edit... > Global mod

 

 

Hình. 1,10

 

 

• Di chuyển Convex trượt sang phải để các thành PO dòng trở thành mặt lồi .

• Di chuyển Expand trượt sang phải để mở rộng đường dây. Trượt nó quay lại 0.

• Di chuyển Smooth trượt sang phải để làm mịn đường. Trượt nó quay lại 0. Cuối cùng bấm vào: OK

 

 

Hiệu chỉnh chiều cao đường Bar

 

Hiển thị tất cả các profile trên màn hình. Về đến trang Addendum :

Options > Show profiles

Chỉ hiển thị những profile riêng để hiệu chỉnh dung lệnh

Lines ... > Bar height: > Edit ...

 

 

Hình. 1,11

Chỉnh sửa bar chiều cao của dòng

Quay công cụ để một vị trí như hiển thị nhu trong Hình. 1.11. Bấm vào dòng giữa hai điểm, mà xác định chiều cao bar (nút chuột phải)

và kéo điểm. Các điểm chỉ có thể được di chuyển theo hướng Z.

Di chuyển điểm theo cách mà những convex một hồ sơ được hình thành. Cuối cùng bấm vào OK

The addendum bây giờ đã điều chỉnh chiều cao đường bar.

 

 

Thay đổi chiều sâu Dập

Giá trị mặc định cho chiều sâu là 20 mm. Giá trị này có thể thay đổi. Bạn có thể

tận dụng lợi thế của parameterized addendum thế hệ: Tất cả các profile được tự động điều chỉnh tới chiều sâu mới.

Trở lại trang binder :

Binder   Shift: 40> Enter

Về đến Addendum trang và click vào

Addendum   Apply

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

• die: Part  + Addendum + Binder

• punch: Part  + Addendum

• binder: Binder

 

 

 

 

 

Xuất các bề mặt công cụ (tool)

 

Các bề mặt công cụ trong DieDesigner có thể được xuất dưới file IGES

hoặc VDAFS định dạng:

Mặt addendum được xuất khẩu như sau:

File > Export surfaces … > Addendum                                                                   Geometry Generator

 

 

 

 

 

 

 

Phương pháp xuất mặt Binder như sau:

File > Export surfaces … > Binder > Binder surface / Binder ring

 

 

 

 

 

 

Hình. 1,12

Xuất các bề mặt công cụ

 

 

 

 

 

Xuất Profile:

Tương tự, các profile có thể được xuất dưới định dạngIGES, VDAFS AF :

 

 

Geometry Generator File > Export addndm profiles … > Profiles > OK

 

 

 

 

Hình. 1,13

 

 

Xuất profile

 

 

 

 

 

Lưu trữ dữ liệu

User interface    File > Save

 

Sign up via our free email subscription service to receive notifications when new information is available.

VM - Search in Shop

VM - Featured products

  • virtuemart sample
    Cap "Baseball"
    $22.65
    String, is input Tooltip
  • virtuemart sample
    Dress Shirt with tie
    $58.42
    Generic Child Variant Tooltip
    String, is input Tooltip
    Chọn một biến

VM - Currencies Selector